Tử vi lý số: Các khái niệm cơ bản: Thiên can, Địa chi

Thứ năm - 08/08/2019 04:49
Phần này là phần căn bản gồm những nguyên tắc quan trọng để tiến vào các phần sau. Đó là nhữ ng nguyên tắc phát xuất từ Dịch Lý để tạo thành môn Lý Số Đông Phương, chúng tạo ra những cách thức căn bản để giải đoán một lá số.
Tử vi lý số
Tử vi lý số
Trong bài đầu tiên của cuốn sách Tử vi lý số, chúng tôi sẽ trình bày về những khái niện, nguyên tắc quan trọng để tiến vào các phần sau. Đó là những nguyên tắc phát xuất từ Dịch Lý để tạo thành môn Lý Số Đông Phương, chúng tạo ra những cách thức căn bản để giải đoán một lá số.

SỰ TẠO THÀNH BỘ LỊCH ĐÔNG PHƯƠNG

Lịch Tây Phương theo vận hành của trái đất quanh mặt trời gồm 365 ngày 1/4, là 1năm.

Lịch Đông Phương tính từng tháng theo sự vận hành của mặt trời quanh trái đất và theo sự vận hành của trái đất quanh mặt trời.

Tuy rằng khác nhau, nhưng hai thứ lịch đều ấn định khí tiết, mùa màng, và lịch nào cũng thích ứng cho đúng năm Mặt Trời. Như lịch Tây Phương thêm tháng 2 nhuận, từ 28 ngày tăng lên 29 ngày. Còn lịch Đông Phương thì đặt ra:

- Tháng thiếu 29 ngày, tháng đủ 30 ngày.

- Cứ 2 năm thêm một tháng nhuận; hoặc có 3 tháng đủ liền nhau.

Lịch Đông Phương ấn định sẵn từ trước, trong thời gian dài cả trăm năm, có đủ khí tiết trong năm, theo vận hành của trái đất quanh mặt trời. Các năm tháng ngày và giờ đều theo lịch lý mà có Âm hay Dương, có hành (Kim, Mộc, Hoả, Thuỷ, Thổ), nghĩa là có nhiều ý nghĩa, và mang những tên bằng 10 Can và 12 Chi.

Mười chữ hàng Thiên Can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Mười hai chữ hàng Địa Chi là: Tí , Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Theo thứ tự, lấy chữ đầu hàng Can ghép với chữ đầu hàng Chi ta có năm Giáp Tí. Rồi cứ lần lượt ghép đến chữ thứ hai hàng Can và chữ thứ hai hàng Chi, là Giáp Tuất. Và cứ thế mà ghép, ta được tên của 60 năm. Sáu mươi năm là một thế kỷ của Đông Phương.

Năm thứ 61 trở lại với tên Giáp Tí và một kỷ mới lại bắt đầu. Xin ghi các tên của năm như sau. Xin chú ý giòng Can và giòng Chi cứ theo đúng thứ tự mà nối cho đến lúc trở lại Giáp Tí.
 
Giáp Tí
Ất Sửu
Bính Dần
Đinh Mão
Mậu Thìn
Kỷ Tỵ
Canh Ngọ
Tân Mùi
Nhâm Thân
Quý Dậu
Giáp Tuất
Ất Hợi
Bính Tí
Đinh Sửu
Mậu Dần
Kỷ Mão
Canh Thìn
Tân Tỵ
Nhâm Ngọ
Quý Mùi
Giáp Thân
Ất Dậu
Bính Tuất
Đinh Hợi
Mậu Tí
Kỷ Sửu
Canh Dần
Tân Mão
Nhâm Thìn
Quý Tỵ
Giáp Ngọ
Ất Mùi
Bính Thân
Đinh Dậu
Mậu Tuất
Kỷ Hợi
Canh Tí
Tân Sửu
Nhâm Dần
Quý Mão
Giáp Thìn
Ất Tỵ
Bính Ngọ
Đinh Mùi
Mậu Thân
Kỷ Dậu
Canh Tuất
Tân Hợi
Nhâm Tí
Quý Sửu
Giáp Dần
Ất Mão
Bính Thìn
Đinh Tỵ
Mậu Ngọ
Kỷ Mùi
Canh Thân
Tân Dậu
Nhâm Tuất
Quý Hợi

Đến Quý Hợi, ta có Quý là chữ cuối hàng Can và Hợi là chữ cuối hàng Chi, thì sau Quý Hợi lại trở lại những chữ đầu của hai hàng, là Giáp Tí . Và năm nào cũng vậy, cứ cộng thêm 60 năm, lại trở lại đúng caí tên cũ. Như sinh năm Kỷ Mùi, thì đúng 60 năm sau, lại là Kỷ Mùi.

Đón đọc bài sau, chúng tôi tiếp tục trình bày về các khái niệm cơ bản: Âm dương, Ngũ hành

>> Xem Bài sau: Tử vi lý số: Các khái niệm cơ bản: Âm dương, Ngũ hành

>> Quay lại Mục Lục Khóa học Tử Vi Lý Số Online

Tác giả bài viết: Vượng Phùng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây